VÀI KỶ NIỆM BUỒN VỀ NGÀY 30 THÁNG 4 – 1975

                                                     Nguyễn Văn Tư

1

Năm 1952, tôi đang làm tư chức, với chức vụ thư kư kế toán tại một hăng buôn tại Sài G̣n th́ bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập ngũ ngày 8-12-1952. Sau 21 năm tại ngũ, ngày 31 – 12 -1973 tôi được giải ngũ với cấp bậc Trung tá, v́ lư do “đáo hạn tuổi”, tiếng thông thường gọi là hồi hưu. Nhờ sức khỏe c̣n tốt nên tôi xin vào làm việc trở lại ở hăng cũ.

Đến cuối năm 1974, Hoa Kỳ rút hết những đơn vị chiến đấu cuối cùng của họ về nước, chỉ c̣n để lại một sô sĩ quan làm việc tại pḥng Tùy viên quân lực (Military Attaché Liaison Office, viết tắt MATLO) cạnh ṭa Đại sứ Hoa Kỳ. Từ từ, Mỹ cắt bớt viện trợ quân sự, đến một lúc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (QLVNCH) không c̣n đủ khả năng đương đầu với quân đội Bắc Việt. Để bảo toàn lực lượng, QLVNCH phải buộc ḷng rút quân, co cụm lại, bỏ Ban Mê Thuột, Kontum, Pleiku, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam .. một cuộc rút quân hỗn độn, vô trật tự. Trong thời gian đó, có thể ví Quân Đội Miền Nam như một con rắn không đầu, cấp chỉ huy và binh sĩ  ai cũng như nhau, mạnh ai nấy chạy, hồn ai nay giữ. Một cuộc tháo chạy tán loạn, một cảnh tượng hăi hùng và kinh hoàng chưa từng có trong lịch sử chiến tranh của miền Nam.

Một vài giới chức lănh đạo đất nước, một số tướng lănh và sĩ quan cao cấp, v́ lư do này hay lư do khác đă thoát thân trước, bỏ lại các chiến hữu đàn em, lạc lơng trong cái cảnh tan ră rất đau ḷng của một quân đội đă có một thời ngang dọc nổi tiếng ở Đông Nam Á; bỏ lại đại đa số đồng bào bơ vơ trong làn sóng đỏ đang thừa cơ tràn vào miền Nam như nước vỡ bờ.

Tại Sài G̣n, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đă “vi hành” cùng với gia đ́nh và đoàn tùy tùng thân tín, trên một chuyến máy bay đặc biệt, sang “tá túc” tại Đài Loan. Người ta đồn, ông Thiệu “ôm” 16 tấn vàng dự trữ tại ngân hàng của Việt Nam Cộng Ḥa đem ra ngoại quốc làm của riêng. Thật ra Cộng sản Bắc Việt đă nhào vô Sài G̣n cướp ngay đem ra Bắc, chia cho các tay đầu sỏ trong Bộ Chính trị của cái đảng “mafia” cộng sản. Cái tài sản quốc gia này đă mất tiêu hồi nào không biết. Cho đến nay, vấn đề này vẫn c̣n là một ẩn số. Đến chừng dư luận dân chúng nêu thắc mắc th́ mới biết “Nhà nước ta” không c̣n một chỉ để làm thuốc. Sau này, hai cuốn hồi kư của Nguyễn Tấn Đời và Bùi Tín đă giải oan cho ông Thiệu.

Một vị Tướng cao cấp đă giữ kín một cách tài t́nh kế hoạch rời bỏ Sài G̣n. Mục đích là để đề pḥng mọi t́nh huống xấu có thể xẩy ra trong cảnh tháo chạy hỗn độn, loạn xà ngầu. Chẳng hạn như âm mưu của kẻ phản bội, sự tranh giành của các chiến hữu hoặc đàn em, đ̣i tháp tùng sự di tản của ḿnh. Ông lập kế “giương đông kích tây” đánh lạc hướng ngay trong nhà ḿnh bằng cách ra lệnh cho gia nhân tổ chức ngày N một bữa tiệc linh đ́nh để đăi thượng khách. Tuy nhiên, đến ngày N-1 ông ta biến mất tiêu. Đến ngày N ấn định, tiệc đă sẵn sàng, mà chủ nhà và thực khách không ai có mặt cả, làm  cho toàn thể gia nhân ngă ngửa. Họ đành thay thế cả chủ lẫn khách, vừa đớp vừa suy nghĩ t́m cách trốn chạy Cộng Sản, tùy từng hoàn cảnh riêng của ḿnh.

Ngoài Đà Nẵng, Tướng Ngô Quang Trưởng tháp tùng ra đệ Thất Hạm dội của Mỹ để di tản khỏi Việt Nam. Về sau, nghe nói lại, sở dĩ  có việc rời bỏ nhiệm sở của ông Trưởng đó là do một áp lực bất khả kháng của một giới chức cao cấp nào đó. Tại Vũng Tàu, Tướng Trần Văn Nhựt dùng trực thăng, cùng gia đ́nh, bay ra chiến hạm Mỹ. Hai vị Tướng Bùi Đ́nh Đạm và Cao Hảo Hớn nằm thường trực tại bộ Quốc Pḥng để cùng các sĩ  quan cao cấp di tản theo kế hoạch của cơ quan  nầy.

Sau đây, xin sơ lược t́nh h́nh các vị tướng trong biến cố 30-4-75.

1. Di tản trước ngày  30-4-75, khoảng trên 30 vị. Xin kể một vài vị được nhiều người nhắc đến: Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên,, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Văn Là, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Văn Mạnh, Trần Văn Trung, Nguyễn Xuân Thịnh, Đồng Văn Khuyên, Trần Văn Nhựt, Lâm Quang Thi, Đỗ Kiến Nhiễu, Chung Tấn Cang, Lâm Ngương Tánh, Bùi Hữu Nhơn, Hồ Văn Kỳ Thoại..

2. Di tản trong ngày 30 – 4 – 75: Trần Văn Đôn, Vĩnh Lộc, Nguyễn Hữu Tần, Nguyễn Văn Chúc.

3. Ở lại Việt Nam, hầu hết đều đi tù “cải tạo” khoảng 30 vị (Trừ 3 vị không đi tù: Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Vỹ, Nguyễn Hữu Hạnh): Nguyễn Hữu Có  Nguyễn Xuân Trang, Lê Minh Đảo,  Nguyễn Vĩnh Nghi, Lư Ṭng Bá, Phạm Ngọc Sang, Đỗ Kế Giai, Lê Văn Thân, Lê Văn Tư, Huỳnh Văn Cao, Trần Văn Chơn, Phạm Đ́nh Thứ…

4. Năm vị tuẫn tiết, được toàn dân ngưỡng mộ, thương tiếc, rất xứng đáng được tôn vinh anh hùng dân tộc: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai.

Rất tiếc là khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo không cho phép tôi kể đầy đủ các tướng lănh thuộc 4 trường hợp trên đây mà tôi thu thập được trên các sách báo. Cũng như tôi không thể đề cập đến một số gương anh dũng của quân nhân các cấp, từ cấp tá đến binh sĩ.

 

2

Xin trở lại những ngày đầu tháng Tư năm 1975. Toàn thể dân chúng ngoài quân đội cũng bị ảnh hưởng dây chuyền. Hăng buôn mà tôi đang làm  có mấy chiếc xe vận tải đi Huế, Đà Nẵng giao hàng, trên đường về Nam bị kẹt lại ở Phan Thiết, không sử dụng đường bộ được. Trên đường di tản, tất cả các xe hơi của tư nhân đều được những người chạy giặc, quân nhân cũng như thường dân xem như là của chung của mọi người, tự động quá giang. Hết chỗ ngồi trong xe, họ leo lên nóc hoặc hai bên vè. Tài xế hoặc chủ xe phản đối th́ bị ăn đ̣n hoặc bị lôi cổ xuống. Một cảnh tượng hỗn loạn, hăi hùng và vô chính phủ chưa từng thấy từ trước đến nay.

Quốc lộ 1, con đường độc đạo xuyên Việt, lúc đó bị kẹt cứng bởi đoàn người và xe cộ di tản vào Nam. Trưởng toán giao hàng đánh điện tín về hăng báo cáo trở ngại và xin chỉ thị. Ban giám đốc hăng quyết định cho thuê tàu thủy chở các xe vận tải về Sài G̣n để được an toàn và nhanh chóng.

Tôi có một người bạn, Trung tá Dương Bỉnh Tuân, lúc tôi c̣n tại ngũ, đă từng ở cùng một đơn vị, Sư đoàn 1 Bộ Binh, đóng tại Huế. Anh theo làn sóng rút quân, về tới Sài G̣n vào cuối tháng 4 năm 1975, Tuân  đến rủ tôi đi “thám sát”một ṿng Sài G̣n để t́m cách vọt đi Mỹ. Hoàn cảnh của anh ấy và của tôi khác nhau đôi chút. Tuân là trung tá hiện dịch (tức xuất thân là Trường Vơ bị Đà Lạt), lúc đó là vô sản, không nhà cửa, trong suốt cuộc đời nhà binh toàn ở cư xá quân đội. Nay quân đội Việt Nam đă “tan hàng” rồi th́ chỉ có con đường duy nhất là đi Mỹ để làm lại cuộc đời. Tuân có vợ và 6 con. Tôi là trung tá trừ bị (xuất thân từ trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức) có thể được gán là tư sản, v́ trước khi vào nhà binh, tôi nhờ buôn bán, làm nghề xuất nhập cảng, có được một ít của nổi của ch́m. Tôi có vợ và hai con. Tôi có 4 anh em, năm 1945, đi kháng chiến chống Pháp và đi theo Cộng Sản luôn cho đến 1975. Nếu tôi ở lại, tôi nghĩ rằng cũng không đến nổi nào, người ta sao ḿnh vậy có sao đâu?

Anh Tuân không nói ra, nhưng sau này tôi biết là anh đă dứt khoát, nhứt quyết ra đi với bất cứ giá nào. C̣n tôi th́ dửng dưng, ba phải, có người rủ đi th́ cũng đi, được th́ tốt, không được cũng tốt thôi. Thật t́nh, mặc dầu lúc c̣n ở trong quân ngũ, làm việc tại hai cơ quan đầu năo của quân đội. Bô Tổng Tham Mưu và Bộ Quốc Pḥng, nhưng tôi chẳng có chút hiểu biết ǵ về chủ nghĩa cộng sản. Những khẩu hiệu chống cộng lúc bấy giờ của chánh phủ miền Nam như là: “Cộng sản bần cùng hóa nhân dân”, “Cộng sản độc tài đảng trị”,  “Đừng nghe những ǵ cộng sản nói, hăy nh́n kỹ những ǵ cộng sản làm” … Theo tôi nghĩ, đó chỉ là những câu tuyên truyền suông. Tôi không thích chính trị, không muốn t́m hiểu cộng sản hay dở thế nào.

Trong Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa thời dó, có thể trong ngành chiến tranh chính trị, quân nhân có học về chủ nghĩa cộng sản, trái lại trong những ngành khác mọi quân nhân chỉ cần học về kỹ thuật chuyên môn của ḿnh. Không có cái kiểu như trong bất cứ đơn vị nào của cộng sản cũng đều có “chính trị viên”,đặc trách về những vấn đề của đảng. Tôi là sĩ quan, nói ra th́ khó tin, chứ thật sự mù tịt về các loại chủ nghĩa. Hồi nào tới giờ đâu có nghe ai nói “chủ trương của chủ nghĩa tư bản ra sao? Đă có chủ nghĩa tư bản, tại sao không có “đảng tư bản” với cương lĩnh của nó? Sao không có sách báo nào nói? Sao không có ai tuyên truyền, đề cao, quảng cáo “đảng tư bản” và động viên để mọi người vào đảng?

Về chủ nghĩa cộng sản, tôi chỉ có một khái niệm mơ hồ. Chỉ biết đó là một chủ nghĩa độc tài kiểu Stalin, Mao Trạch Đông. Độc tài ở chỗ các lănh tụ trị v́ đất nước cho đến chết mới thôi. Một khi đă độc tài tất nhiên không có tự do, không có dân chủ. Và người dân chỉ biết chịu đựng. Trước năm 1975, có một thời gian tôi làm việc tại Bộ Quốc Pḥng, nơi đây cung cấp sách báo xuất bản tại Hà Nội (báo Nhân Dân..) tôi không quan tâm t́m hiểu “Cộng sản là ǵ ?”cho nên không buồn đọc những tờ báo đó. Lo làm bổn phận hằng ngày, “chính chị, chính em” làm chi cho mệt.

Anh Tuân nói, ḿnh nên đem theo “ai đi ca” (Identification card, viết tắt ID card) tức là cái căn cước mà quân trường Hoa Kỳ đă cấp cho chúng tôi với tư cách là sĩ quan đồng minh khi đi tu nghiệp, để được tư do đi lại trên đất Mỹ. Thật sự, đối với chúng tôi, tấm thẻ căn cước này có một giá trị thiết thực hơn, là được hưởng quyền mua hàng giá miễn thuế dành riêng cho quân nhân Mỹ tại các cửa hàng quân tiếp vụ (Post Exchange, PX) về phương diện người tiêu thụ, quân nhân đồng minh được đối xử b́nh đẳng với quân nhân Mỹ. Năm 1960, Tuân và tôi cùng đi học 8 tháng ở Fort Sill, Oklahoma, Hoa Kỳ, nên đến 1975 chúng tôi vẫn c̣n giữ cái thẻ “ai đi ca” này làm vật lưu niệm.

Tôi nghe có lư, lấy tấm thẻ đó đem theo. Hôm đo, tôi không nhớ chính xác ngày nào, đó là một trong những ngày từ 27 đến 29 -4-75. Trước tiên, chúng tôi đến ṭa Đại sứ Mỹ, đường Thống Nhất để thăm ḍ t́nh h́nh. Thật là một cảnh đông người, xôn xao, hỗn độn chưa từng thấy. Phiá trong ṿng rào, dân ta đông nghẹt, ước lượng cũng vài ngàn người. Không rơ họ tràn vô từ lức nào. Cả hai cửa ngơ, một ở đường Thống Nhất và một ở Mạc Đĩnh Chi đều đóng kín mít, có quân cảnh Mỹ canh gác cẩn mật, xua đuổi những người ở lề đường có ư định leo rào nhẩy vô. Nghe nói,  người nào đă lọt được bên trong th́ sẽ được trực thăng đậu trên sân thượng ṭa Đại Sứ bốc đưa xuống tầu neo ở ngoài khơi để di tản đi Mỹ. Ở bên kia đường, đối diện với ṭa Đại sứ, dân chúng c̣n đông hơn nữa, số lượng hàng ngàn, tụ tập, chờ “thời cơ” để bước vào biên giới Việt Mỹ.

Mới bước đầu mà đă gặp khó khăn. Trước khi đi, chúng tôi đinh ninh là sẽ vào cổng Ṭa Đại Sứ dễ dàng, tŕnh thẻ “đồng minh” là sẽ được niềm nở tiếp đón. Bây giờ t́nh thế như vầy, ḿnh đường đường là sĩ quan cấp tá, xớ rớ leo rào bị quân cảnh xua đuổi th́ nhục quá. Chúng tôi chờ cả giờ, t́nh h́nh vẫn không có ǵ khả quan. Không bền chí đợi lâu hơn nữa, chờ thời như mọi người, hai đứa rủ nhau đi về.

Tôi hỏi Tuân:

-Nếu hai đứa ḿnh vào được, ḿnh bỏ vợ con lại sao?

-Ḿnh phải lo thân ḿnh trước. Tụi Việt Cộng không ưa ḿnh đâu! Nhứt là ḿnh dân Pháo Binh, đă từng nă biết bao nhiêu đạn cà nông lên đầu họ. Họ nói ḿnh là con “nợ máu” của họ. Vợ con ḿnh ở lại, chắc không đến nỗi ǵ, từ từ sẽ tính.

Tuấn đă quyết tâm, c̣n tôi th́ long chừng, thụ động. Nếu hôm đó, Tuăn đi được th́ tôi cũng đi theo.

Sau này nghe nói lại, ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tướng Trần Văn Đôn, cựu thượng nghị sĩ cũng không vào được Ṭa Đại sứ Mỹ và phải di tản bằng con đường khác. Trong lúc đó, tôi có một người bạn đồng khóa Pháo binh ở Thủ Đức, tên Lê Châu Lộc, lại trùng hợp, về sau cũng là thượng nghị sĩ, may mắn thế nào mà trong lúc chen lấn ở phía ngoài cổng tṛa Đại sứ, được một người bạn Mỹ ở bên trong nhận diện được nên can thiệp với quân cảnh Mỹ cho vào một cách ngon lành. Về trường hợp của Tuân, cũng đúng vào ngày 30 - 4 – 1975 anh ấy cùng vợ 6 đứa con được một người bạn, sĩ quan Hải quân, rủ vọt đi Mỹ trên một chiến hạm Hải Quân Việt Nam. Quả là Trời không phụ người bền chí.

3

Chiều hôm đó tôi lấy xe, chở vợ con đi một ṿng Sài G̣n để xem t́nh h́nh. Đến ṭa Đại sứ Mỹ, vẫn cái cảnh y như hồi sáng. Ở bên trong và bên ngoài, người ta vẫn đông như kiến. Rời nơi đây, tôi chạy xe lên phi trường Tân Sơn Nhất. Ôi cha! Người tứ xứ không biết hẹn nhau từ kiếp nào mà đến tập họp tại đây đông quá Trời, ước lượng cũng trên năm ba ngàn người. Từ nhỏ tới lớn, tôi chưa bao giờ thấy một cảnh tượng như vậy. Cổng vào sân bay có những con ngựa kẽm gai chắn ngang, quân cảnh canh gác nghiêm  nhặt. Ở phía ngoài, hầu hết là thường dân, nam phụ lăo ấu đều có, ngồi bẹp quây quần ở dưới đất. Hỏi thăm mới biết, cả gia đ́nh bỏ hết nhà cửa, tài sản ít nhiều ǵ đều thí cô hồn không luyến tiếc. Họ nhất quyết đi t́m tự do. Phần đông là người “Nam gốc Bắc” tức là người di cư hồi năm 1954. Ở phía trong sân bay, nghe nói cũng tràn ngập dân di tản và quân nhân được ưu tiên vào trong. Trời lần lần sụp tối, không thấy ai bỏ ra về. Họ nói: “Cứ bền gan chờ, chờ suốt đêm, chờ đến ngày hôm sau cũng chờ. Ở trong đi hết, th́ trước sau ǵ cũng đến lượt ḿnh”. Ôi! Tự do sao mà vô giá đến thế!

Tôi suy nghĩ. Động lực nào đă cho họ một ư chí sắt đá như vậy? Quân nhân miền Nam sợ cộng sản trả thù nên bỏ xứ ra đi th́ c̣n hiểu được. C̣n dân thường, nhất là người Bắc sanh ra từ cái nôi cộng sản của nước Việt Nam, sao cũng lại chạy trốn. Cộng sản cũng là con người như ḿnh. Họ đâu phải ông kẹ, ngáo ộp, qủy ma, yêu tinh ǵ, vậy mà sao ai cũng sợ? Đặt giả thuyết, cho rằng bỏ xứ ra đi là có lư. Nhưng những người từ chối bỏ Tổ quốc chỉ có vài trăm ngàn người. C̣n mấy chục triệu người ở lại, họ sao?. Họ sống với cộng sản được th́ ḿnh cũng sống được. Những người dân ít học c̣n kiếm cơm được. Ḿnh có học chút đỉnh, làm công hay đi buôn, hơn nữa c̣n biết chút ít tiếng Tây tiếng U, tiếng Mỹ tiếng Mẽo, tiếng Tầu tiếng Hoa, không lẽ đói sao? Ôi! Sao mà tôi c̣n ngây thơ ngu ngốc quá chừng. Nhưng tôi chủ quan, cho rằng những suy nghĩ của tôi là hữu lư. Mới hồi sáng, nếu tôi và Tua6n lọt vào Ṭa Đại sứ, đi là “có lư.” Bây giờ trong đầu tôi không c̣n chút ư nghĩ ǵ về việc bỏ xứ ra đi nữa. Tôi là đầu tầu trong gia đ́nh, c̣n vợ con chỉ thụ động. Tôi đi là cùng đi, ở là cùng ở. Hồi sáng, đi là có lư, bây giờ không đi cũng có lư. Sau đây nghe nói lại, nghệ sĩ Trần Văn Trạch có một câu nói để đời: “Nếu cột đèn có chân th́ nó cũng đi”. Có nghĩa là, những người không đi là v́ họ không có điều kiện hoặc v́ một lư do nào đó, chứ tất cả đều không muốn sống chung với cộng sản. Ai đúng ai sai? Ngày hôm nay nghĩ lại, qua những kinh nghiệm đau thương, quả là người Quốc gia và người Công sản không thể “đôi Trời chung”.

Đêm 29-4-75, tôi trằn trọc, thao thức hoài không ngủ được, tại sao người ta bỏ quê hương, bỏ tổ quốc dễ dàng vậy? Tại sao tôi dại dột quá, không đi như mọi người? Nếu sau này khổ cực, tôi có ân hận không? Những câu hỏi không có lời giải đáp.

Sáng 30 – 4 – 75, đài phát thanh loan báo Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện và sẵn sàng tiếp đón quân đội Bắc Việt vào tiếp thu. Tôi nghĩ, vậy là nước nhà sẽ thống nhất, đoàn kết, ḥa b́nh, không c̣n cảnh huynh đệ tương tàn nữa. Tôi xách xe chạy một ṿng Sài G̣n theo dơi t́nh h́nh. Khoảng 11 giờ trưa, đang đi trên đại lộ Thống Nhứt, tôi gặp một đoàn xe thiết giáp của bộ đội Bắc Việt, từ cầu Thị Nghè chạy chầm chậm như diễn hành hướng về dinh Độc Lập. Tôi biết họ sẽ đi vào Phủ Tổng Thống để được Dương Văn Minh bàn giao lại Miền Nam Việt Nam. Họ không tốn một viên đạn nào, nhưng điều chắc chắn là họ hao một ít mồ hôi, v́ trưa hôm đó trời nóng nực. Vậy là chế độ “Việt Nam Cộng Ḥa”đă cáo chung. Người thức thời nói là chế đô này bị bức tử. Và một chế độ mới sắp mở màn tại miền Nam Việt Nam.

Tuần báo Công An tại Sài G̣n số 317 ra ngày 19 – 8 – 1992, trong bài “Người phất cờ trên đỉnh cao lịch sử”, tác giả Lưu Ngọc Vang viết: “Đoàn tới dinh Độc Lập lúc 9 giờ 30, chiếc xe tăng 843 húc dổ cổng sắt tiến vào sân. Chính ủy Bùi Tùng vào bắt sống Tổng Thống Dương Văn Minh …” Xạo vừa thôi!”

Nguyễn Văn Tư