MỘT CÁI TẾT TRONG TRẠI TÙ BINH CỘNG SẢN

 

Lời giới thiệu: Bài này được viết hồi năm 1977, vào thời điểm mà có một số lớn sĩ quan QLVNCH bị đưa vào các trại tù, gọi nôm na, dịu dàng là “trại cải tạo” ở ngoài Bắc, đă được một vài tờ nội san đăng rồi, nay sẵn dịp Tết, tác giả và ĐS PB xin đăng lại.

Tác giả bị động viên Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tham gia trận Nà Sản (Bắc Việt), bị bắt làm tù binh từ 1952 đến 1955. Được trả về Nam theo sự can thiệp của UHKSĐC Quốc Tế cùng lúc với 100 sĩ quan quân đội QGVN bị cầm tù thời bấy giờ. Giải ngũ năm 1958 để thi vào trường QGHC, đă phục vụ ở Bộ Nội Vụ, Bộ Ngoại Giao cho đến tháng 4 năm 1975.

Nà Sản là một cái ḷng chảo, gần Điện Biên Phủ, nơi tác giả đồn trú khi bị Việt Minh đánh chiếm đêm 30/11/1952 (cho đến ngày 18/7/1955 mới được trả tự do tại Bến Hải, cầu Hiền Lương).

Ban Biên Tập

 

Cảm thông với những nỗi thống khổ về tinh thần lẫn vật chất của hàng chục ngàn sĩ quan QLVNCH đă bị Cộng Sản giam cầm trong các trại “cải tạo” (sic) ở Bắc Việt, tôi xin ghi lại h́nh ảnh một cái Tết trong trại tù binh tại Thái Nguyên trước ngày ngưng bắn 1954 để đồng bào tị nạn cùng chia sẻ.

Tết Nguyên Đán sắp đến rồi, đồng bào ta đang tị nạn tại các quốc gia trong khối tự do không làm sao quên được các thân nhân, bạn bè nguyên là những chiến sĩ dũng cảm của QLVNCH đang thoi thóp trong các trại cải tạo của Cộng Sản tại quê nhà. Tâm trạng của họ giờ đây cũng như tâm trạng của các sĩ quan và binh sĩ quốc gia bị bắt làm tù binh và giam cầm tại miền Thượng Du Bắc Việt trong những năm 1952, 1953, 1954, và năm 1955. Tôi nhấn mạnh năm 1955 là v́ mặc dù Hiệp Định Genève quy định hai bên ngưng bắn ngày 20-7-1954, phải trao trả tù binh trong ṿng 2 tháng nhưng Việt Minh c̣n cầm giữ các sĩ quan Quốc Gia, đến tháng 7-1955 mới tuyên bố giải tán trại tù binh C.100 tại Thái Nguyên.

Để mở đầu, tôi xin chép lại bài thơ được truyền tụng trong hàng ngũ anh em tù binh hồi đó tạm đề tựa là:

 

CẢM TÁC  

Buồn quá đi thôi núi vây quanh,

Suốt ngày trân tráo một màu xanh.

Lưng trời ghép chặt trên rừng rậm,

Thung lũng nằm trơ chói nắng hanh.

 

Đợi chờ* khó chịu quá đi thôi,

Đêm đến ngày đi biết mấy rồi.

Nh́n áng mây mờ trôi lủng lẳng,

Ta nghe trong thịt máu bừng sôi.

 

Chiều nay núi vẫn trơ màu biếc,

Khe vẫn ngân nga một giọng đều.

Rừng vẫn buồn buồn như luyến tiếc,

Trời ơi ấm ức biết bao nhiêu !

* Đợi chờ: Tức chờ ngày được phóng thích mà bọn cán bộ thường nói tới khi đề cập đến “lượng khoan hồng” của Hồ Chủ Tịch, đảng và chính phủ (sic).  

Đây là cái Tết thứ ba mà tôi đang chuẩn bị đón chào theo chỉ thị của Ban Chỉ Huy trại.

Quư vị cứ h́nh dung một khu nhà tranh vách nứa nằm giữa rừng sâu, không có kẽm gai bao quanh (không phải v́ Cộng Sản nhẹ tay đối xử với tù binh, mà v́ chúng không có kẽm gai mà rào), bốn bề rào bằng tre nứa đan mắt cáo, bên cạnh là khe suối nước chảy róc rách tối ngày (không phải thơ mộng như trong bản nhạc “Suối Mơ” của Văn Cao mà suối này ai lội qua có thể rụng lông chân v́ ḷng suối dầm lá han nên nước trở nên độc địa), c̣n một bên hông là núi đồi trùng điệp, đằng xa là đỉnh Tam Đảo, c̣n gần đây là muỗi và vắt khủng khiếp (tôi nói khủng khiếp là v́ ai có biết con vắt mới thấy cái kinh tởm của nó, ḿnh vừa đặt chân tới b́a rừng là hàng trăm ngàn con vật li ti, nhỏ như cọng nhang, khi nó đói và to bằng mút đũa khi nó hút máu người no nê, giương ḿnh búng đi t́m da thịt ḿnh như con đĩa đói).

Nói tới rừng, tôi cũng có cảm hứng làm một bài thơ:

 

RỪNG VIỆT BẮC  

Rừng Việt Bắc bao la hùng vĩ (1),

Rừng Việt Bắc huyền bí thiêng liêng.

Đây, nơi ẩn thân người chí sĩ,

Đây, nơi nghiêm trị kẻ tù đày.

 

Ta bảo mi là bạn

Nơi căn cứ cách mạng (2)

Nung đúc chí anh hùng

Cờ khởi nghĩa phất tung

Giữa mùa thu lịch sử

 

Ta bảo mi là thù

Nơi rừng núi âm u

Giam cầm người tù tội

Và trong giờ sám hối (sic)

Hàng trăm bịnh giày ṿ.

1. Việt Bắc là danh từ của Cộng Sản gọi miền Thượng Du (xứ Thái và dân thiểu số) gồm các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái, Tuyên Quang coi như là chiến khu trong thời đánh Pháp.

2. Cách mạng đây ám chỉ ngày 19 tháng 8 năm 1945 (Việt Minh cướp chính quyền).  

Tôi sẽ trở lại nói chuyện về rừng Việt Bắc sau này, bây giờ đề cập vào việc Tết giải phóng cái đă. Nhưng trước hết phải nói qua về thành phần tù binh trong trại C.100 này. Các vị có thể h́nh dung đó là những chàng trai tuổi 20, vừa tốt nghiệp Khóa 1, Khóa 2 Sĩ Quan Trù Bị Nam Định và Thủ Đức, các sĩ quan thâm niên hơn xuất thân từ Khóa 1 tới Khóa 6 trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, lại có cả một bác sĩ quân y và cũng phải kể các Trung Đội Trưởng được đào tạo cấp tốc tại Bắc Việt cho các đơn vị Địa Phương Quân. Họ đến từ khắp các chiến trường, có bạn từ Kontum, Ban Mê Thuộc (lặn lội 2 tháng qua dăy Trường Sơn để tập trung về đây hoặc từ Mặt Trận Tây Bắc - Nghĩa Lộ, Lai Châu, Mộc Châu, Nà Sản, hoặc từ các trận công đồn ở đồng bằng, từ các trại ở Thanh Hóa chuyển ra, hoặc sốt dẻo hơn là trận Điện Biên Phủ đưa về. Không biết đây là “thượng sách” hay “hạ sách” của Việt Minh khi tập trung tất cả các sĩ quan về ở chung một trại, v́ trước kia họ giam sĩ quan chung với hạ sĩ quan và binh sĩ ở rải rác khắp nơi: một trăm người tất cả. Một sự t́nh cờ ngộ nghĩnh là bọn Việt Minh đặt tên trại là C.100 (theo VM th́ A là Tiểu Đội, B là Trung Đội và C là Đại Đội). Khi gặp nhau trong hoàn cảnh sa cơ thất thế này, họ cảm thấy thương yêu nhau hơn bao giờ hết, thật đúng nghĩa bốn chữ “huynh đệ chi binh”.

C̣n 3 tháng nữa mới đến Tết, thế mà cán bộ đă phát động THI ĐUA, thi đua mọi mặt để lập thành tích dâng lên cho Hồ Chủ Tịch, Đảng và chính phủ gọi là để chào mừng Xuân Mới. Các khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”, “Hồ Chủ Tịch muôn năm”, “Đảng Lao Động Việt Nam muôn năm” v.v... được kẻ bằng mực đỏ hay sơn đỏ tươi như máu và treo la liệt khắp nơi. Ở đâu và lúc nào các khẩu hiệu đó cũng dán vào mắt tù binh. Và kể từ ngày đó, mỗi người phải làm việc gấp hai, có khi gấp 3 ngày thường, làm ban ngày chưa đủ c̣n phải tranh thủ làm đêm, làm luôn cả ngày Chủ Nhật nữa. Chắc quư vị sẽ hỏi: “Ở tù mà làm cái ǵ?”. Phải biết tù binh trong tay V.M. không giống như tù binh mà QLVNCH giam giữ ở Phú Quốc (tức được ăn no, ngủ kỹ, mặc ấm lại chẳng phải làm ǵ động móng tay) mà phải làm lao động tận lực trong lúc trời Đông giá rét, ăn chẳng được no, áo quần rách tả, rách tơi, làm việc cho tới khi kiệt quệ ngă xuống mới thôi. Tùy theo khả năng chuyên môn của từng người, cán bộ phân tù binh ra từng tổ: nào là tổ dệt chiếu, tổ đan rổ, đan thúng, tổ làm canh nông phá rẫy trồng sắn, trồng ngô, vừng hay lúa, sau hết các tay cầm viết không có nghề ngỗng ǵ th́ bổ sung vào tổ đi làm thuê cho dân làng hoặc làm cỏ lúa, bắt cua hay gánh thóc thuế nông nghiệp đi nộp vào kho nhà nước. Sau phần công tác lao động là học tập và kiểm thảo. Ôi thôi, không biết bao nhiêu đề tài để học, đêm nào cũng tập trung lên hội trường để nghe cán bộ nhồi sọ, nào là “Chủ trương đường lối của Đảng”, nào “Lượng khoan hồng của Hồ Chủ Tịch”, nào “Căm thù thực dân đế quốc”, nào “Chính sách cải cách ruộng đất”, nào “Vô cùng thương tiếc đại đồng chí Sít-ta-lin” v.v... và hội trường vừa giải tán xong là trở về lán (chỗ ngủ) để họp tổ thảo luận để tổ trưởng biên chép mang nộp cho ban Chỉ Huy trại xong xuôi th́ tù binh mới được quyền ngă lưng. Lúc bấy giờ ít nhất đă là nửa đêm, gà đă gáy canh hai rồi, anh em mệt quá ngủ thiếp đi không c̣n sức đâu nghĩ tới gia đ́nh và cũng quên đi cái lạnh cắt da, cắt thịt ở vùng núi Việt Bắc. Ngủ chưa đă giấc th́ một hồi kẻng vang lên, anh em phải chỗi dậy chạy ra sân sắp hàng tập thể dục và bắt đầu một ngày lao động mới. Học tập không chưa đủ dằn vặt đầu óc tù binh, cán bộ c̣n bày tṛ kiểm thảo, hay nói đúng ra là bắt tù binh làm tờ thú tội v́ khẩu hiệu đă được vẽ trong vách “người nói không có tội, người nghe sửa ḿnh”, tờ thú tội đó sẽ được chính ḿnh đọc lớn trước tổ để được anh em nghe và phê b́nh, nếu lời khai c̣n thiếu sót chỗ nào mà có người biết và bổ túc cho th́ cán bộ sẽ đánh giá ḿnh là chưa thấm nhuần chính sách, chưa thành khẩn bộc lộ sai lầm, hay nói cách khác là ḿnh bị ghép vào thành phần ngoan cố chưa xứng đáng được hưởng lượng khoan hồng và như vậy ngày phóng thích mà ḿnh hằng chờ đợi lại càng lùi xa hơn nữa. Đến đây tôi xin mở ngoặc, nếu không có thỏa ước Genève và ngưng bắn năm 1954 th́ 100 anh em chúng tôi đă rục xương trong tù.

Tưởng cũng nên biết qua, trong gần 3 năm bị giam cầm, Ban Chỉ Huy trại đă bắt chúng tôi khai lư lịch trên 10 lần, có lẽ họ muốn coi ḿnh khai có thành thật không, trước sau có giống không, hoặc để họ căn cứ vào đó mà quy định thành phần ḿnh thuộc loại nào, trí thức, tiểu tư sản, địa chủ hay bần cố nông để tùy theo loại mà trừng trị. C̣n thi đua với kiểm thảo th́ không biết cơ man nào mà kể. Mỗi lần thi đua là có kiểm thảo để gọi là lấy thành tích chào mừng các Ngày Kỷ Niệm hay Lễ Lớn như “Kỷ niệm ngày thành lập Đảng Lao Động”, “Ngày Quốc Tế Lao Động”, “Ngày Sinh Nhật Hồ Chủ Tịch”, “Cách Mạng Tháng Tám”, “Lễ Độc Lập” và “Tết Nguyên Đán”.

Sau hết phải nói tới phần ẩm thực v́ nó là động cơ thúc đẩy mọi hoạt động: suốt năm ăn đói, thiếu chất mỡ, chất ngọt và cả chất mặn nữa. Ngày thường tù binh ăn uống rất thiếu thốn, thường là cơm độn với sắn (khoai ḿ) hay ngô (bắp) nhưng gạo rút từ 500g mỗi ngày xuống c̣n 300g (tức một chén cơm) nên ai cũng thèm lạt v́ thức ăn chỉ có rau muống chấm tương hay bí rợ nấu muối hay cà chua nấu loăng làm canh, thịt cá th́ đừng nghĩ tới, chỉ có bộ đội hay cán bộ được hưởng theo từng tiêu chuẩn “Tiểu táo”, “Trung táo” hay “Đại táo” mới có thứ đó mà xơi.

V́ vậy tù binh chỉ mong mau tới Tết để ăn thịt một lần (cho có chớ không phải cho đă), mà đó là thịt trâu. Kho cũng thịt trâu, xào cũng thịt trâu, canh cũng thịt trâu. Ngày Mồng Một được no nê một bữa, nhưng từ Mồng Hai đến Mồng Mười chỉ ăn cơm với muối vừng (mè) v́ tiền chợ mười ngày dồn vào con trâu hết rồi. Tuy nhiên không phải có tiền mà được ăn thịt, v́ muốn ăn thịt phải có phép của Thượng Cấp, tù binh không có quyền thụ hưởng như bộ đội hay cán bộ, cho treo mỏ là một h́nh thức trả thù, v́ Cộng Sản cho tù binh sĩ quan là thành phần “ngồi mát ăn bát vàng” hoặc “chỉ tay năm ngón” ngày xưa. Nhưng muốn ăn ngon miệng một bữa, th́ trước hết tù binh phải ca tụng chế độ bằng mọi h́nh thức văn nghệ. Ai cũng làm một câu vè, một bài thơ hay viết một vở kịch có nội dung căm thù giai cấp, mạt sát Quốc Gia, đề cao Cộng Sản, thậm chí có câu vè như thế này của cán bộ mớm lời được ḥ lơ cả chục lần trong một buổi học tập:

Câu vè là:

Bảo Đại mày dại làm sao,

Nửa đêm dắt mẹ xuống ao ăn bèo.

Cán bộ văn công dạy tù binh hát những bài hát lai căng, nhưng tù binh cũng phải hát cho làu mà trong bụng th́ chẳng ưa ǵ:

Đông phương Hồng, mặt trời lên

Trung Hoa chúng ta có Mao Trạch Đông

Với muôn dân, người là cứu tinh

Tang tính tang t́nh. Dân ấm no. Người mưu Ḥa B́nh.

Bài Quốc Tế Ca (Internationale) được phổ bằng tiếng Việt, bài ca ngợi Xít-ta-lin và ca ngợi Kim Nhật Thành cũng được phổ biến sâu rộng.

Riêng tù binh cũng sáng tác, lời lẽ không thể làm vừa ḷng cán bộ được, nên chỉ lén lút truyền khẩu giữa anh em với nhau. Đây là một bản nhạc do Trung Úy Thụ sáng tác trong dịp Tết cuối cùng (1955) hy vọng ngày phóng thích gần kề:

Rời rừng xanh sâu

ta tiến về nơi Thủ Đô

Cuộc đời âm u,

giờ phút phân ly không vương sầu,

Một trời màu xanh, cây bao la rừng hoang tối tăm.

Chúng ta vui đi về, cố đô, nơi quê hương nhà...

Từ lâu, ta nuốt bao nhiêu hận căm thù,

Cuộc đời thanh niên ta tối tăm v́ đâu.

Đời vui sao có bao nhiêu biệt ly

Đă qua bao nhiêu ngày rừng hoang

Ồ ô!

Tức cảnh thành thi.

Mặc dù là cảnh buồn, nhiều nhà thơ bất đắc dĩ xuất hiện chuyền nhau đọc cũng thấy an ủi phần nào, như bài dưới đây do tôi sáng tác:

 

RỜI RỪNG  

Chắc ta sắp ĺa mi rừng ạ,

Về xóm làng thị xă miền xuôi.

Ba năm chia ngọt xẻ bùi,

Ra đi ḷng những ngậm ngùi nhớ thương.

 

Rừng với ta ngày nào quen biết,

Buổi công đồn quyết liệt: tù binh.

Bước đầu trong cuộc phiêu linh,

Nh́n nhau sợ hăi, lặng thinh đi vào.

 

Rừng khẽ bảo, cớ sao mà sợ,

Rằng đôi ta như vợ với chồng.

Suối trong ngụm nước mát ḷng,

Củi đây người đốt, đêm đông sưởi cùng.

 

Nào những buổi, lên rừng chém nứa,

Đẵn gỗ về cất lán, làm sàn.

Làm phênh, đập nứa ta đan,

Cắt tranh về lợp trang hoàng nhà ta.

 

Rời rừng Việt Bắc hôm nay,

Về xuôi ôn lại những ngày tối tăm.

Những ngày đau khổ âm thầm,

Lê đời tù tội ba năm vừa tṛn.

 

TỰ THÁN  

Ất Mùi Năm Mới đến nơi rồi,

Tết nhất làm chi khổ thân tôi.

Ra đi đất Bắc tôi lầm tưởng,

Cảnh đẹp người xinh đón rước tôi.

Nào hay sau, trước vừa ba tháng,

V.M đánh “bốt” bắt tù rồi.

Cuộc đời ch́m nổi đâu cứ măi,

Quả đất tṛn kia cũng có ngày.

Và ngày ấy là ngày tôi c̣n sống, tôi ngồi ghi lại mấy ḍng này để các bạn đồng hương đọc mà thương những người đă, hoặc đang ngậm hờn nuốt tủi trong ngục tù Cộng Sản.

Paris, Giáng Sinh 1977
  
         Nguyễn Đ́nh Lang

  
         exDL0 (5eGAVN)